Các công cụ dùng trong mixing & mastering 101: Compressor – phần 1

Mình là Glu, kỹ thuật viên thu âm của MCMA Studio.

Trong series này, mình sẽ giới thiệu đến các bạn những công cụ mixing – mastering cơ bản nhất. Mình sẽ chỉ tập trung trình bày tổng quan về các công cụ này và cách dùng cơ bản của chúng. Mong sẽ cung cấp cho các bạn vừa tập dùng DAW và VST những thông tin bổ ích và giúp các bạn có thể sử dụng chúng hiệu quả hơn.

Những công cụ nào là thiết yếu?

Bài đăng trước chúng ta đã cùng tìm hiểu qua eq, một công cụ không thể thiếu trong khâu mixing – mastering. Để biết công cụ thiết yếu tiếp theo mình sẽ giới thiệu là gì thì mời các bạn cùng xem qua một thiết bị “hầm hố” thường làm những bạn newbie phải e dè khi nghĩ đến làm nhạc:

Hình 1: Bảng điều khiển 24 kênh SSL Duality

Đó chính là bảng điều khiển analog (analog console), thiết bị giúp thu âm, mixing và mastering tín hiệu audio. Nó cũng giống các phần mềm làm nhạc như Ableton Live, FL Studio hay Protools vậy thôi, nhưng nó là phần cứng. Và có một sự thật mà các bạn thường không biết, là nhìn bảng analog console nhiều nút và núm như vậy thôi, chứ thực chất nó lại đơn giản và ít công cụ hơn một DAW (với hàng tấn hiệu ứng đi kèm).

Nếu DAW cấu thành từ các track thì một analog console cấu thành từ nhiều channel (kênh âm thanh), mỗi channel tương ứng với một track mono. Do đó nếu bạn thấy một analog console 10 channel có 100 nút điều khiển thì đừng vội hoảng. Thực chất là mỗi channel có 10 núm điều khiển và có 10 channel như vậy nên nó thành 100 núm thôi, chứ không phải nó có tận 100 chức năng khác nhau đâu. 😉

Hình 2: SSL E-Channel là một phần mềm giả lập một channel trên analog console

Cấu tạo một channel thì lại khá đơn giản, thường sẽ gồm một fader âm lượng, núm panning, một nhóm núm Filters (chính là EQ), một nhóm núm Dynamics (Compressor và Expander) và đó là tất cả những gì cơ bản nhất mà chúng ta cần (hình 2)! Sự thật là ông cha ta đã tạo ra những bản thu bất hủ chỉ với bằng này công cụ (có lẽ là cần thêm một ít reverb và delay nữa).

Như vậy nếu EQ là công cụ thiết yếu nhất thì Compressor (công cụ giúp kiểm soát dynamic) sẽ là công cụ thiết yếu thứ nhì.

Dynamic là gì và vì sao phải dùng compressor?

Dynamic hay dynamic range tạm dịch là khoảng động, là độ lớn nhỏ không đều về âm lượng của một đoạn âm thanh.

Uncomp: đoạn vocal này chưa được compress, có chỗ nhỏ khó nghe, có chỗ lại to đột ngột

Trong thực tế, các nguồn âm như giọng hát hoặc tiếng guitar thường có dynamic range rất rộng (âm lượng lớn nhỏ không đều) và điều này gây khó khăn trong khâu mixing. Một nguồn âm có dynamic lớn sẽ có lúc quá to – lấn át các thành phần khác, có lúc quá nhỏ – bị các thành phần khác lấn mất, khiến cho việc cân đối giữa các thành phần với nhau gặp khó khăn. Chúng ta có thể ngồi cắt đoạn âm thanh to nhỏ không đều đó ra thành nhiều mảnh, rồi chỉnh âm lượng từng mảnh lại cho chúng đều với nhau, tuy nhiên việc này rất mất thời gian và không đồng nhất. Compressor là công cụ ra đời để khắc phục vấn đề này.

Compressor (máy nén dynamic)

Compressor là một công cụ giúp làm giảm dynamic range bằng cách làm nhỏ đi những đỉnh âm lượng lớn vượt ngưỡng ta quy định. Để hình dung rõ hơn cách làm việc của compressor ta sẽ cùng tìm hiểu về ba thông số cơ bản nhất của anh bạn này: Threshold (ngưỡng nén) – Ratio (tỉ lệ nén) – Make up gain (âm lượng bù lại).

Hình 3: Compressor trong Ableton Live

Threshold (ngưỡng nén)

Threshold là ngưỡng ta quy định để compressor biết nên nén những đỉnh âm lượng nào. Đỉnh âm lượng nào lớn vượt ngưỡng threshold này sẽ bị compressor “đè đầu xuống”, đoạn âm thanh nào nhỏ hơn ngưỡng này sẽ không bị tác động gì cả.

Ở các compressor digital như Pro-C2 (fabfilter) hay Compressor (Ableton Live) Threshold có đơn vị là dBFS, với 0dBFS là thông số cao nhất, compressor sẽ không có tác động khi ta đặt threshold ở mức này (hình 3). Thông số này càng âm thì compressor sẽ tác động nén càng nhiều.

Hình 4: Ngưỡng nén trong giao diện của compressor Pro-C2 (Fabfilter) được thể hiện là một lằn ngang (được mình đồ đỏ lên). Bất cứ đỉnh âm thanh nào vượt lằn ngang này sẽ bị nén thấp xuống.

Mẹo: Khi dùng compressor cho vocal, mình sẽ nghe hết một lượt rồi để ý xem đoạn nào bị nhỏ, đoạn nào bị to. Sau đó mình sẽ đặt ngưỡng threshold này vừa cao hơn các đoạn bị nhỏ, để compressor nén hết các đoạn bị to kia đi.

Đây là thông số quan trọng nhất của một em compressor. Một số compressor giả lập thiết bị analog như CLA-2A của Waves chỉ có 2 núm vặn là âm lượng đầu vào và ngưỡng nén, tất cả các thông số khác như Ratio hay Attack đều được thiết lập tự động.

Hình 5: Compressor CLA-2A của Waves chỉ có 2 núm điều chỉnh là Gain (âm lượng đầu vào) và Peak reduction (chính là threshold)

Lưu ý nếu để threshold quá thấp, khiến compressor nén toàn bộ đoạn âm thanh thì ta có thể làm cho đoạn âm thanh đó có cảm giác bị “bí”, hoặc có cảm giác như bị đẩy sâu ra sau bản mix, đôi khi lại thích hợp cho các track vocal bè.

Overcomp – low threshold: cả đoạn vocal đều bị nén do đặt ngưỡng threshold thấp, sắc thái lớn nhỏ không còn

Ratio (tỉ lệ nén)

Ratio quyết định độ nén mạnh hay nhẹ của compressor, giá trị của ratio nhỏ nhất là 1, lớn nhất là inf (vô cùng lớn).

Với ratio là 1, compressor sẽ không có tác động gì tới các đỉnh âm lượng vượt ngưỡng. Ratio từ 2 đến 6 là các mức nén thông dụng, từ 8 trở lên là mức nén mạnh và ít dùng hơn. Ratio inf rất hiếm khi dùng, tương đương với độ nén của một limiter.

Mẹo: với vocal mình thường dùng ratio từ 3-4 để đảm bảo độ tự nhiên khi compressor tác động.

Overcomp – high ratio: ratio bị đặt quá cao khiến cho các đoạn lớn bị nén không tự nhiên, có một chút cảm giác distortion (gần giống clipping). Các đoạn nhỏ không bị ảnh hưởng do dưới ngưỡng threshold

Một số compressor chỉ cho chúng ta chọn một vài tỉ lệ nén nhất định, như compressor CLA – 2A (Hình 5) chỉ cho ta chọn giữa 2 chế độ là compressor (với ratio là 3) hoặc limiter (với ratio là 100).

Gain reduction – GR (âm lượng bị giảm)

Để theo dõi các hoạt động của compressor như nó có đang nén hay không, đang nén nhiều hay ít… chúng ta có thể xem ở cột gain reduction – thể hiện lượng dB bị cắt xuống bởi tác động của compressor theo thời gian thực.

Hình 6: Thông số gain reduction (GR) là cột màu vàng và đường màu vàng ứng với 2 chế độ xem của Ableton Live Compressor

Ở các loại compressor giả lập thiết bị analog không có nhiều giao diện hiển thị thì 3 thông số gain input, GR và gain output thường được thể hiện trên cùng một mặt kim VU meter (hình 5). Muốn xem thông số nào thì phải gạt cần qua thông số đó, lúc này mặt kim VU meter sẽ nhảy theo thông số ta chọn.

Mẹo: theo dõi thông số GR rất giúp ích khi ta đang căn chỉnh threshold và ratio. Thường mình sẽ chỉnh threshold và ratio sao cho compressor không bao giờ nén quá 6dB GR, như vậy sẽ tránh bị comp quá tay là âm thanh mất tự nhiên. Tuy nhiên mức GR 10dB trở lên cũng không phải là hiếm thấy khi phải comp các nguồn âm có dynamic lớn như guitar, trống hay thậm chí là vocal.

Make up gain (âm lượng bù lại)

Sau khi thiết lập threshold và ratio thì compressor đã nén những đỉnh âm lượng lớn xuống gần hơn với những đỉnh âm lượng nhỏ, làm cho dynamic range nhỏ lại. Tuy nhiên việc nén này nhìn chung cũng làm cho đoạn âm thanh bị nhỏ xuống, là điều ta không mong muốn. Ta cần thực hiện thao tác cuối cùng là đẩy âm lượng tổng thể đầu ra lớn như ban đầu bằng thông số make up gain – output gain này. Một số compressor có chế độ “auto make up gain” sẽ tự động bù lại một lượng gain dựa trên mức threshold và ratio mà ta chọn.

Hình 7: Chế độ auto make up gain của pro C2 (fabfilter)

Nếu bạn làm tốt các bước chọn threshold và ratio thì đến bước bù gain này ta sẽ thấy đoạn âm thanh rất “ngoan ngoãn” vâng theo mức âm lượng chỉ định của ta, những chỗ quá nhỏ hay to bất ngờ không còn nữa mà là một đoạn âm thanh lớn đều tự nhiên.

Cùng nghe lại đoạn nhạc có vocal chưa được compress và đoạn nhạc có vocal được compress tốt.

Uncomp: đoạn vocal này chưa được compress, có chỗ nhỏ khó nghe, có chỗ lại to đột ngột
Goodcomp: đoạn vocal được compress tốt, đoạn nhỏ nghe rõ, đoạn lớn không bị giật mình, vẫn giữ được sắc thái biểu đạt của vocal.

Tạm kết

Ngoài các thông số kể trên, compressor còn có các thông số khác như attack, release, knee và chức năng sidechain. Việc tinh chỉnh các thông số này cho phép ta mở rộng chức năng của compressor thêm – không chỉ đơn thuần là một công cụ cân đối âm lượng, mà còn giúp định hình (shape) âm thanh. Mình sẽ đề cập ở bài viết “Các công cụ dùng trong mixing & mastering 101: Compressor – phần 2“.

Với người mới tập dùng compressor, ban đầu sẽ thấy khó khăn vì khó nghe ra tác dụng của công cụ này. Trước tiên bạn nên tập trung vào sử dụng 3 thông số chính là Threshold, Ratio và Make up gain và tập theo dõi GR cho thuần thục, các thông số khác nên để mặc định. Dần dà khi tai bạn đã nghe quen với tác dụng của compressor thì bạn có thể táy máy với các thông số còn lại sau.

Cảm ơn bạn đã đọc bài viết và đừng ngại để lại bình luận nếu bạn có thắc mắc hay cần trao đổi điều gì nhé. Mình là Glu và hẹn gặp lại bạn ở bài viết tiếp theo.

Bài viết liên quan

4 thoughts on “Các công cụ dùng trong mixing & mastering 101: Compressor – phần 1”

Bình Luận

%d bloggers like this: